Giao dịch bán khống đầu tiên trên thế giới được cho là diễn ra vào năm 1609 khi một thương nhân người Hà Lan tên là Le Maire, cổ đông lớn của Công ty Vereenigde Oostindische Compagnie (VOC – một công ty Hà Lan liên kết với Đông Ấn) gây ra sự suy giảm mạnh giá cổ phiếu của Công ty. Vào năm 1602, ông Le Maire đầu tư 85.000 đồng Florin Hà Lan (hay còn gọi là Euro guilder – Guilder Antillean Hà Lan (ANG)) vào Công ty VOC. Đến năm 1609, VOC vẫn chưa trả cổ tức, và cùng thời điểm đó, con tàu của Le Maire đang trên lộ trình hàng hải trên biển Baltic thì bị đe dọa tấn công liên tục bởi tàu của nước Anh vì mâu thuẫn thương mại giữa người Anh và Công ty VOC. Le Maire quyết định bán cổ phiếu của ông và thậm chí bán nhiều hơn cả những gì ông hiện có. Do áp lực từ phía Ban Giám đốc VOC, Chính phủ Hà Lan đã cho đây là hành động vi phạm pháp luật và từng bước bãi bỏ việc bán cổ phiếu trước ngày thanh toán mà người bán không sở hữu ở thời điểm thực hiện việc bán ra. Ở thời hiện đại, Marchi and Harrison – hai nhà phân tích kinh tế nổi tiếng thế giới (1994), cho rằng đó là một lệnh cấm giao dịch bán khống. Lệnh cấm này bị thu hồi 2 năm sau đó.

       Bán khống đã bị lên án gay gắt, sớm nhất là kể từ thế kỷ 18 khi Anh cấm bán khống trao tay. Nó được nhìn nhận như một hiệu ứng khuếch đại trong sự suy giảm nghiêm trọng của thị trường Hà Lan trong thế kỷ 17. Một ví dụ điển hình khác, George Socos trở thành một kẻ lừa đảo khét tiếng với việc “phá tan hệ thống Ngân hàng Trung ương Anh (BOE)” vào ngày thứ Tư đen tối năm 1992 khi ông này bán khống hơn 10 tỷ USD giá trị của đồng bảng Anh.
        Từ “bán khống” được sử dụng kể từ giữa thế kỷ 19. Bán khống được cho là nguyên nhân của vụ sụp đổ phố Wall năm 1929. Các quy định quản lý bán khống đã được thực thi từ năm 1929 đến 1940 tại Mỹ. Hậu quả chính trị từ vụ sụp đổ này đã dẫn tới việc Quốc hội ban hành một luật cấm bán khống bằng việc bán cổ phiếu ra trong thời kỳ thị trường suy giảm; quy định quản lý này được biết đến là “quy tắc đánh dấu lên” và có hiệu lực cho tới tận năm 2007. Thủ tướng Herbert Hoover lên án bán khống và thậm chí J. Edgar Hoover cho rằng ông sẽ điều tra bán khống về vai trò của nó đối với việc kéo dài suy thoái. Các quy định đưa ra vào năm 1940 cấm các quỹ tương hỗ bán khống (luật này đã được dỡ bỏ năm 1997). Một vài năm sau đó, năm 1949, Alfred Winslow Jones sáng lập một quỹ (không bị kiểm soát) mua vào cổ phiếu khi bán khống những cổ phiếu khác, vì vậy bảo hiểm rủi ro thị trường và quỹ đầu tư rủi ro mạo hiểm ra đời từ đó. Một số ví dụ điển hình của việc bán khống điên loạn trong suốt thời kỳ “bong bóng kinh tế”, chẳng hạn bong bóng dot-com. Ở thời kỳ đó, các nhà giao dịch bán khống bán ra với hy vọng một sự điều chỉnh của thị trường. Khi xuất hiện một tin xấu, chẳng hạn xảy ra một vụ kiện tụng đối với một công ty, cũng ngay lập tức lôi kéo những khách hàng thân thiết bán khống cổ phiếu. Cũng vì lý do này, vào tháng 9/2008, bán khống đã được cho là một yếu tố chủ chốt của những bất ổn không mong muốn trên TTCK Mỹ. Hậu quả là Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch Mỹ (SEC) đã tạm thời cấm bán khống đối với 799 công ty tài chính trong một nỗ lực nhằm bình ổn giá thị trường của cổ phiếu công ty. Theo sau sự việc này là động thái cấm tương tự của các nhà quản lý thị trường ở Anh, Úc, Tây Ban Nha và một số nước nữa. Một lệnh khẩn cấp thứ 2 có hiệu lực kể từ ngày 22/9/2008 và sau cải biến nó có hiệu lực áp dụng kéo dài đến tháng 8/2009, yêu cầu các nhà quản lý của nhà đầu tư có tổ chức phải báo cáo hoạt động bán khống của họ. Nghiên cứu cẩn thận các động thái của cơ quan quản lý thời đó có thể giúp chúng ta đi tới kết luận rằng đó là một khoảng thời gian rất bận rộn đối với các nhà quản lý và hoạch định chính sách ở Mỹ. Vào khoảng tháng 9/2008, các nhà quản lý của SEC đã đưa ra những quy định quản lý mới thậm chí chỉ 1 ngày sau khi vừa đưa ra những quy định quản lý về vấn đề này. Nếu như chúng ta theo dõi báo chí về SEC thì có thể thấy mỗi một lệnh ban hành khẩn cấp đều dựa trên cơ sở lợi ích chung và “để bảo vệ nhà đầu tư để duy trì và ổn định một TTCK công bằng và minh bạch”.