HỎI: Xin cho tôi biết, tại sao khi phân tích chứng khoán thường phải phân tích về ngành mà doanh nghiệp đang hoạt động. Hiện nay, trên TTCK Việt Nam có những cách phân ngành như thế nào? 

             ĐÁP: Trên TTCK, việc phân ngành là một thông lệ không thể thiếu khi phân tích chứng khoán theo phương pháp phân tích cơ bản. Trong đó, nhà phân tích luôn xem xét doanh nghiệp trong tổng thể kinh tế vĩ mô, thị trường tài chính, đặc điểm, tính chất và khả năng phát triển của ngành mà doanh nghiệp đang kinh doanh. Từ đó, rút ra các đánh giá về doanh nghiệp trong tương quan với các doanh nghiệp khác cùng ngành và với các ngành khác.
             Trên thế giới hiện nay, tồn tại rất nhiều hệ thống phân ngành ở cấp độ quốc gia và quốc tế. Những tiêu chuẩn phân ngành điển hình đang được ứng dụng một cách rộng rãi trên thế giới gồm: ISIC (International Standard Industrial Classification of All Economic Activities) do Liên hợp quốc xây dựng; SIC (Standard Industrial Classification) và NAICS (North American Industry Classification System) do Mỹ xây dựng; ICB (Industry Classification Benchmark) do FTSE Group và DowJone xây dựng; GICS (Global Industry Classification Standard) do Morgan Stanley và Standard & Poor’s xây dựng. Xin nhấn mạnh tới tiêu chuẩn phân ngành phổ biến nhất hiện nay là ICB. ICB phân chia các ngành kinh tế quốc dân thành 4 cấp gồm: 10 nhóm ngành (Industries), 19 phân ngành lớn (Super sectors), 41 phân ngành chính (Sectors), 114 phân ngành phụ (Sub sectors). Các nhóm ngành được xây dựng trong ICB bao gồm: Dầu khí, nguyên vật liệu, công nghiệp, hàng tiêu dùng, y tế, dịch vụ tiêu dùng, viễn thông, dịch vụ tiện ích và tài chính. ICB được xây dựng dựa trên việc theo dõi, giám sát hoạt động của trên 60.000 doanh nghiệp và trên 65.000 loại chứng khoán. Các sở giao dịch chứng khoán lớn của thế giới như Euronext, LSE, NASDAQ và NYSE luôn cập nhật hàng ngày các dữ liệu từ ICB để giúp cho các nhà đầu trên khắp thế giới theo dõi được sự biến động của thị trường chứng khoán.
            Tại Việt Nam VSIC 2007 (Hệ thống ngành kinh tế quốc dân) đang được chính thức áp dụng. Hệ thống VSIC 2007 gồm 21 ngành cấp 1, 88 ngành cấp 2, 242 ngành cấp 3, 437 ngành cấp 4 và 642 ngành cấp 5. Các ngành cấp 1 trong VSIC 2007 gồm: nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, khai khoáng, công nghiệp chế biến – chế tạo, sản xuất phân phối điện – khí đốt – nước nóng – hơi nước – điều hòa không khí, cung cấp nước – hoạt động quản lý xử lý khí rác thải- nước thải, xây dựng, bán buôn – bán lẻ – sửa chữa ô tô – mô tô – xe máy – xe có động cơ khác, vận tải kho bãi, dịch vụ lưu trú và ăn uống, thông tin và truyền thông, hoạt động tài chính – ngân hàng – bảo hiểm, hoạt động kinh doanh bất động sản, hoạt động chuyên môn – khoa học – công nghệ, hoạt động hành chính – dịch vụ hỗ trợ, hoạt động của Đảng cộng sản – tổ chức chính trị xã hội, quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng – bảo đảm xã hội bắt buộc, giáo dục đào tạo, y tế – hoạt động trợ giúp xã hội, nghệ thuật – vui chơi – giải trí, hoạt động dịch vụ khác, hoạt động làm thuê các công việc trong các hộ gia đình – sản xuất sản phẩm vật chất – dịch vụ tự tiêu dùng của hộ gia đình, hoạt động của các tổ chức và cơ quan quốc tế.
            Tuy đã có các hệ thống phân ngành VSIC từ lâu, nhưng hiện nay trên TTCK Việt Nam, vẫn chưa có một tổ chức chính thức nào của Chính phủ thực hiện việc sắp xếp các doanh nghiệp niêm yết vào các nhóm phân ngành cụ thể. Hoạt động này mới chỉ được thực hiện tại một số các công ty chứng khoán và quỹ đầu tư. Do áp dụng các tiêu chuẩn không thống nhất đa phần dựa trên ICB, GICS hoặc NAICS, nên cách thức sắp xếp doanh nghiệp của các công ty kể trên không giống nhau dẫn đến việc đưa ra các chỉ số tài chính của ngành rất khác biệt, tạo ra sự khó hiểu cho nhà đầu tư./