Tổ chức hay cá nhân có thể sở hữu chứng khoán dưới hình thức chứng chỉ (cổ phiếu, trái phiếu) hoặc dữ liệu điện tử. Trên thị trường chứng khoán tập trung, các công ty chứng khoán (CTCK) chính là đầu mối giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán chứng khoán. CTCK nhận lệnh đặt mua, lệnh chào bán và “thể hiện ý chí” mua bán bằng hành vi chuyển lệnh vào hệ thống giao dịch để khớp lệnh, thông báo lệnh đã được khớp, kết nối hệ thống giao dịch của Sở Giao dịch chứng khoán và hệ thống lưu ký của Trung tâm Lưu ký chứng khoán, hay nói cách khác, việc giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán, xác lập quyền sở hữu chứng khoán niêm yết thông qua một trình tự, thủ tục đặc biệt.

Để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhà đầu tư chứng khoán niêm yết trong quá trình xác lập và thực hiện quyền sở hữu, cần thiết phải làm rõ những vấn đề pháp lý có liên quan trong giao kết và thực hiện hợp đồng mang tính đặc thù gắn với hệ thống giao dịch điện tử hiện nay.

1. Đặt lệnh mua bán chứng khoán – phương thức thể hiện ý chí

Nhà đầu tư có thể mua bán chứng khoán thông qua phương thức giao dịch thỏa thuận hoặc giao dịch khớp lệnh. Đối với trường hợp giao dịch khớp lệnh, nhà đầu tư đặt lệnh mua hoặc bán chứng khoán tại các bộ phận môi giới của CTCK, CTCK với tư cách là thành viên giao dịch chuyển lệnh khớp tại Sở Giao dịch. Nhà đầu tư thể hiện ý chí mua hoặc bán chỉ có thể biết có được sự thống nhất ý chí hay không khi được thông báo kết quả khớp lệnh.

Vấn đề bất cập thường phát sinh ở giai đoạn này là thể hiện ý chí của nhà đầu tư có được chuyển tải đúng hay không. Trên thực tế đã xảy ra nhiều trường hợp đưa lệnh mua hoặc lệnh bán vào hệ thống không đúng với yêu cầu của nhà đầu tư nên dẫn đến tình trạng lệnh mua, lệnh bán không được khớp tại phiên giao dịch – hợp đồng chưa hình thành, có nghĩa là nhà đầu tư có thể bị thiệt hại nếu giá chứng khoán tăng. Ở đây, cần phân biệt lỗi trong vận hành của hệ thống giao dịch và lỗi của nhân viên môi giới. Trong tất cả các trường hợp cần thiết phải xem xét mức độ thiệt hại phát sinh để có biện pháp xử lý đối với tổ chức và cá nhân có liên quan cũng như xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho nhà đầu tư. Một dạng lỗi phổ biến là làm sai lệch lệnh yêu cầu, đây thường là lỗi của nhân viên môi giới, tùy từng trường hợp có thể xác định được trách nhiệm bồi thường thiệt hại của CTCK do hành vi thiếu trách nhiệm trong tác nghiệp của nhân viên môi giới gây ra1. Việc xác định rõ ràng trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các bên có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm quan hệ giao dịch hình thành và được thực hiện có hiệu quả, đề cao trách nhiệm của các bên liên quan trong tác nghiệp chính xác, khách quan và vô tư trong chuyển lệnh, khớp lệnh và thông báo kết quả.

 

2. Xác nhận quyền sở hữu chứng khoán niêm yết

Về nguyên tắc, sau khi CTCK thông báo kết quả khớp lệnh, giá mua bán chứng khoán đã hình thành. Phải khẳng định rằng vào thời điểm này, các bên không được hủy bỏ hợp đồng cho dù các bên chưa được xác nhận về việc thanh toán tiền và chứng khoán. Về nguyên tắc, khi quyền sở hữu tiền và chứng khoán trong tài khoản của nhà đầu tư chỉ được xác lập sau khi Trung tâm Lưu ký chứng khoán thực hiện hoạt động bù trừ và thanh toán chứng khoán.

Theo qui định pháp luật hiện hành, CTCK sau khi thực hiện hành vi môi giới, tiếp tục thực hiện quyền quản lý tài khoản tổng của các nhà đầu tư, xác lập quyền sở hữu bước đầu của nhà đầu tư. Quyền sở hữu chính thức được xác lập khi khoản tiền thanh toán về tài khoản của bên bán và chứng khoán về tài khoản của bên mua sau 03 ngày giao dịch (T+3). Theo trình tự các bước trong giao dịch tại Sở Giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh, thời gian thanh toán áp dụng như sau: đối với mua cổ phiếu, sau 03 ngày làm việc kể từ ngày mua, vào buổi chiều thứ 3, cổ phiếu về tài khoản của nhà đầu tư; đối với bán cổ phiếu, sau 03 ngày làm việc kể từ ngày bán cổ phiếu, vào buổi sáng ngày thứ 3, tiền bán chứng khoán sẽ có trong tài khoản của nhà đầu tư.

Quyền mua bán chứng khoán của nhà đầu tư được bảo đảm khi không phát sinh lỗi giao dịch trong hệ thống và mọi thông tin liên quan đến thanh toán, chuyển giao chứng khoán theo đúng khối lượng giá cả tại thời điểm thông báo khớp lệnh đã được truyền tải chính xác đến Trung tâm Lưu ký chứng khoán để bù trừ, thanh toán và lưu ký.

Về cơ bản, qui trình này được áp dụng để đảm bảo an toàn cho hệ thống và đảm bảo cho các thành viên thị trường đủ thời gian cân đối và bù trừ chứng khoán và tiền thanh toán sau ngày giao dịch T. Tuy nhiên, việc xác nhận thanh toán và sở hữu chứng khoán sau giao dịch 03 ngày là một bất cập trong điều kiện sử dụng phương thức giao dịch điện tử, đặc biệt thị trường chứng khoán tập trung được coi là thị trường cho sự thịnh hành “nghề kinh doanh chứng khoán”. Hiện nay, rút ngắn thời gian thanh toán và cho phép giao dịch chứng khoán trong ngày T+2 vẫn đang là một câu hỏi chờ phúc đáp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3. Bảo đảm thực hiện quyền mua bán chứng khoán niêm yết liên tục

Đặc trưng của chứng khoán niêm yết là hàng hóa đầu tư và được giao dịch trên hệ thống kết nối giữa CTCK và Sở Giao dịch chứng khoán. Về nguyên tắc, quyền sở hữu tiền hoặc chứng khoán chỉ được xác nhận vào ngày T+3, nhà đầu tư chỉ có quyền bán chứng khoán sau khi chứng khoán về tài khoản. Khoảng thời gian trước khi chứng khoán về tài khoản, cụ thể là khoảng thời gian hoàn tất thanh toán tiền mua chứng khoán đến thời điểm chứng khoán về tài khoản, nhà đầu tư sở hữu chứng khoán không được phép giao dịch.

Nếu xét dưới góc độ bảo đảm thực hiện quyền sở hữu của nhà đầu tư và bảo đảm quyền tự do kinh doanh của CTCK, thì hạn chế trên sẽ trở thành một “rào cản” cho thực hiện các giao dịch chứng khoán vốn đòi hỏi tính liên tục và kịp thời. Cụ thể là :

– Về phía nhà đầu tư sẽ không thực hiện được giao dịch một cách liên tục, phải chờ đợi một khoảng thời gian là 03 ngày sau khi lệnh mua bán được khớp, mặc dù tại thời điểm đặt lệnh, nhà đầu tư mua chứng khoán đã ký qũy đủ số tiền phải thanh toán.

– Về phía CTCK sẽ bị hạn chế trong việc cung cấp dịch vụ mua bán liên tục cho nhà đầu tư trong điều kiện đã hoàn thiện hệ thống giao dịch đủ khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán tiền và bán chứng khoán trước ngày T+3.

Nhằm khuyến khích sự gia tăng của giao dịch chứng khoán và đảm bảo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của các CTCK, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 50/2009/TT-BTC ngày 16/03/2009 về Hướng dn giao dịch điện tử trên thị trường chứng khoán. Theo đó, các giao dịch điện tử trong lĩnh vực chứng khoán phải tuân thủ nguyên tắc rõ ràng, công bằng, trung thực, an toàn và hiệu quả (Mục 1 điểm 4). Có thể thấy, tính thông thoáng của văn bản pháp luật này nhằm đảm bảo các giao dịch điện tử diễn ra một cách công bằng và có hiệu quả.

Chứng khoán niêm yết là một loại hàng hóa đầu tư, với giá cả lên xuống từng ngày, từng giờ theo nhu cầu của thị trường và các thông tin liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, bởi vậy, cần thiết phải bảo đảm thực hiện quyền mua bán chứng khoán liên tục và kịp thời.

Việc cơ quan có thẩm quyền cho phép rút ngắn thời gian thanh toán và cho phép giao dịch chứng khoán trước ngày T+3 đang là sự mong mỏi của các nhà đầu tư và các CTCK hiện nay. Nếu được chấp thuận, sự cho phép này sẽ tạo cơ hội cho nhà đầu tư năng động hơn trong việc kinh doanh chứng khoán cũng như tạo ra môi trường kinh doanh công bằng để CTCK không còn phải “lách luật” kết hợp hoạt động cho vay chứng khoán với hoạt động môi giới chứng khoán và không còn phải “bất đắc dĩ” phân biệt đối xử các nhà đầu tư được đặt lệnh mua bán sớm hơn ngày T+3 với các nhà đầu tư đặt lệnh sau ngày T+32. Đồng thời, việc cho phép bán chứng khoán trước ngày T+3 cũng khuyến khích được các CTCK khai thác tối đa các tài sản đầu tư – hệ thống giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của nhà đầu tư.

Nhìn chung, pháp luật về giao dịch chứng khoán cần được dân sự hóa theo hướng giảm bớt cơ chế “xin – cho” trong quản lý giao dịch3 và thời hạn thanh toán cần được rút ngắn hơn T+3. Ngoài ra, các qui định về giao dịch chứng khoán cần quán triệt nguyên tắc bảo đảm công bằng trong đó, khung pháp lý về giao dịch chứng khoán phải được xây dựng trên cơ sở không phân biệt thời gian thanh toán T+1 cho giao dịch thỏa thuận và thời gian thanh toán T+3 cho giao dịch khớp lệnh. Bởi vì, nếu cùng mục đích kinh doanh chứng khoán thì việc thanh toán trước, và tạo quyền bán chứng khoán trước là sự ưu tiên về thủ tục nhưng cũng đồng nghĩa với tạo lợi ích vật chất cho một số nhà đầu tư qui mô lớn.

Việc rút ngắn thời gian thanh toán cũng như cho phép giao dịch chứng khoán chưa về tài khoản cũng phù hợp với thông lệ quốc tế. Các nước láng giềng Hàn Quốc và Singapore cho phép thực hiện nghiệp vụ bán sau khi giao dịch mua đã được xác nhận. Còn Nhật Bản cho phép CTCK có đủ điều kiện cần thiết thực hiện dịch vụ mua bán liên tục cùng một loại chứng khoán ngay sau khi hoàn tất thủ tục thanh toán trong ngày4.

Tuy nhiên, để đảm bảo tính khả thi của việc rút ngắn thời gian thanh toán và bán chứng khoán trước ngày T+3, Ủy ban Chứng khoán nhà nước cần trao quyền tự chủ hơn cho CTCK trong thiết lập và vận hành hệ thống thanh toán bù trừ nội bộ để đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư có nhu cầu thanh toán nhanh hoặc bán chứng khoán khi chưa về tài khoản với mức phí bổ sung và mức phí này phải được công khai. Việc sử dụng linh hoạt công cụ “phí giao dịch” có khả năng kết hợp hài hòa lợi ích của nhà đầu tư, CTCK và vẫn đảm bảo đề cao vai trò quản lý của Ủy ban Chứng khoán nhà nước.

Ngoài ra, cần hoàn thiện hệ thống giao dịch và lưu ký chứng khoán để rút ngắn về thời gian thanh toán tiền và chứng khoán áp dụng chung cho mọi đối tượng nhà đầu tư.

Không thể phủ nhận rằng, các quyết định của Ủy ban Chứng khoán nhà nước và Bộ Tài chính đã quán triệt nguyên tắc đảm bảo công bằng trong giao dịch và có tính đến sự chưa hoàn thiện của hệ thống giao dịch của Sở Giao dịch chứng khoán và hệ thống quản lý của Trung tâm Lưu ký chứng khoán, tuy nhiên, nếu các văn bản pháp qui có tầm nhìn xa hơn trong bảo đảm quyền tự do kinh doanh và bảo đảm thực hiện quyền sở hữu thì nó còn có ý nghĩa lớn hơn trong định hướng hoạt động của CTCK và củng cố niềm tin của nhà đầu tư chứng khoán. Sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các CTCK, Sở Giao dịch chứng khoán và Trung tâm Lưu ký chứng khoán sẽ khắc phục những khiếm khuyết trong tổ chức giao dịch, nhằm hiệu quả hóa hơn nữa các giao dịch chứng khoán.

Chú thích:

(1) Trên thực tế, nhiều lỗi chỉ có thể được phát hiện khi có sai lệch số dư chứng khoán trên tài khoản của nhà đầu tư. Sở Giao dịch chứng khoán và Trung tâm Lưu ký chứng khoán áp dụng pháp luật để sửa lỗi là yêu cầu CTCK chuyển lệnh mua bán sai thành lệnh tự doanh của CTCK. Còn CTCK trước khi sử dụng cách nêu trên thường sử dụng phương thức thuyết phục nhà đầu tư chấp nhận giao dịch có lỗi, hoặc sử dụng tài khoản khác để thực hiện mua bán đối ứng.

(2) Tham khảo thêm: “Bán chứng khoán T+2, vẫn bước đi thận trọng”, báo Đầu tư chứng khoán, số 5 ngày 11/1/2010 và “Bán chứng khoán T+2 – chỉ dừng lại ở ý tưởng”, báo Đầu tư chứng khoán, số 11 ngày 25/1/2010

(3) Ủy ban Chứng khoán nhà nước sử dụng công văn hành chính số 64/5/UBCK-PTTT ngày 22/4/2009 cho phép Sở Giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh rút ngắn thời gian thanh toán giao dịch thỏa thuận cổ phiếu chứng chỉ quỹ trên 100.000 đơn vị trở lên.

(4) Tham khảo từ bài CTCK Matsui tổ chức giao dịch chứng khoán buổi đêm và thiết lập hệ thống thanh toán ngay.

Tải từ : http://nikkeibp.com.jp/new ngày 28/7/2006 (bản tiếng Nhật).

Nguồn: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ